Bài 01- Kiểu dữ liệu trong PHP 5

Sharing is caring!

Chào các bạn, hôm nay mình sẽ mở đầu series “Làm Bạn Với PHP 5” với bài đầu tiên là giới thiệu về các kiểu dữ liệu cơ bản (built-in) trong PHP 5(PHP 5.4 và 5.5). Nào chúng ta bắt đầu nhé.

Đầu tiên là các bạn phải nhớ dùm mình một điều là tất cả các code PHP đều phải nằm trong 2 cái thẻ mở <?php và đóng ?> nhé. Nếu không thì code nó không chạy đâu.

Ngôn ngữ PHP có một cái rất là lạ so với các ngôn ngữ lập trình khác đó là PHP rất hợp với những ai “lười” Happy-Grin . Tại sao là “lười”, vì so với các ngôn ngữ khác như Java, C# thì PHP khi khai báo biến chẳng cần quan tâm kiểu dữ liệu của biến đó, các bạn xem ví dụ sau nhé:

Đối với Java hoặc C#, khi khai báo biến thì phải viết như vầy:

Đối với PHP thì không cần khai báo kiểu dữ liệu luôn Approve , viết như sau:

(Cách khai báo và làm việc với biến thì mình sẽ nói rõ ở các bài sau)

PHP nó dễ chịu như vậy đó các bạn Overjoy , tuy nhiên không phải vì không cần khai báo kiểu dữ liệu khi khai báo biến mà chúng ta bỏ qua việc xem xét các kiểu dữ liệu sẵn có(built-in) của PHP. Ngôn ngữ PHP cung cấp cho chúng ta 8 loại kiểu dữ liệu như sau:

  1. 4 loại là kiểu single value: Integer, Float, String và Boolean.
  2. 2 loại là kiểu collection: array và object.
  3. 2 loại còn lại là: NULL và resource

Rồi đó, PHP chỉ có bao nhiêu đó kiểu dữ liệu thôi đó. Chúng ta đi vào tìm hiểu từng loại nhé.

1. Integer

Integer là kiểu số nguyên như là 1, 26, -40, 150… Miền giá trị của kiểu integer nằm trong khoản (-231 đến 231 – 1) quy ra con số thì nó là từ −2.147.483.648 đến 2.147.483.647.

Do mình đâu có khai báo kiểu dữ liệu cho biến đâu, cho nên nhiều khi mình cũng không biết là biến nó nhận giá trị là số nguyên, số thực hay là một kiểu dữ liệu nào đó. Để kiểm tra cái biến nó có phải là kiểu integer hay không, ta dùng hàm sau is_int() hoặc is_integer() đều được.

2. Float

Float là kiểu số thực hay còn gọi là kiểu số chấm động như là: 1.4, 2.8, 3.14, 46.7, 79.888… Miền giá trị của float nằm trong khoản (1.7 x 10-308 đến 1.7 x 10308) quy ra con số bao nhiêu thì các bạn bấm máy tính nha, nó dài lắm.

Tương tự như integer, chúng ta cũng có thể kiểm tra một biến có giá trị là kiểu float hay không bằng hàm is_float() hoặc is_real().

Các bạn thấy là miền giá trị của kiểu float nó lớn hơn của kiểu integer, điều này có nghĩa kiểu float nó bao trùm luôn cả kiểu integer. Do đó nếu khi một biến có giá trị kiểu integer và trong quá trình tính toán, giá trị này nó vượt qua miền giá trị của kiểu integer thì tự động PHP sẽ chuyển biến đó sang thành kiểu float luôn. Các bạn xem ví dụ sau:

3. String

Kiểu String được định nghĩa là 1 dãy các ký tự liên tiếp nhau. Giá trị của kiểu string được đặt trong 2 dấu nháy đơn hoặc 2 dấu nháy kép. Đơn giản là như vầy:

Đối với giá trị kiểu string đặt trong nháy kép, có một số ký tự đặc biệt khi muốn thêm vào trong giá trị của kiểu string ta phải viết như sau:

Cách viết Giá trị hiển thị Mô tả
$s = “She is a \”hot\” girl”; She is a “hot” girl \”: nháy kép
$s = “She is a \”hot\” girl.\r\n I’m not”; She is a “hot” girl.
I’m not
\r\n: xuống hàng
$s = “She is a \”hot\” girl.\t I’m not”; She is a “hot” girl.         I’m not \t: tab một khoản cách
$s = “C:\\php\\ebook”; C:\php\ebook \\: dấu backslash \
$s = “My money is \$500” My money is $500 \$: dấu $

Để kiểm tra biến đó có phải là kiểu string hay không, ta dùng hàm is_string() nha các bạn.

4. Boolean

Đây là kiểu dữ liệu mà giá trị của nó chỉ có true hoặc false.

Ngoài keyword false, đối với các các kiểu biến khác nếu giá trị là những trường hợp dưới đây, khi kiểm tra cũng sẽ trả về giá trị là false:

  1. Integer: $a = 0;
  2. Float: $a = 0.0;
  3. String: $a = “”; và $a = “0”;
  4. Array: $a = [] hoặc $a = array();
  5. Giá trị NULL: $a = NULL;

Tương tự, để kiểm tra một biến là kiểu boolean, ta dùng hàm is_bool()

5. Array

Array là kiểu dữ liệu tập hợp nhiều biến khác nhau theo một thứ tự. Mặc định, chỉ số của các phần tử array được đánh bắt đầu từ 0 đến tổng số phần từ – 1. Ví dụ: Nếu array có 6 phần từ thì chỉ số các phần từ sẽ là từ 0 đến 5 (5=6-1).

Kiểu array này rất là tiện dụng luôn đó các bạn, nó rất uyển chuyển, các phần tử đều có thể có kiểu dữ liệu giống nhau hoặc khác nhau. Như ở trên ta thấy $arr[1] và $arr[2] có cùng kiểu string và $arr[0] có kiểu integer.

Chúng ta có thể viết như sau, tự động chỉ số sẽ được đánh theo thứ tự:

Ngoài việc (tự động) đánh chỉ số cho các phần tử theo số thứ tự, PHP còn cho phép ta đánh chỉ số và gán giá trị cho phần tử của array theo kiểu key/value như sau:

Trong đó “Google”, “Microsoft”, “Apple” là key và giá trị tương ứng với các key này là “Android”, “Windows Phone”, “iOS”.

Để kiểm tra một biến là kiểu array ta dùng hàm is_array().

6. NULL

Khi một biến có kiểu giá trị là NULL có nghĩa lúc đó ta chưa xác định được giá trị cụ thể của biến đó. Nôm nà là khi tạo một biến mà lúc đó chưa biết gán cái quái gì cho nó thì cứ gán là NULL Happy-Grin .

Ta viết là NULL, Null hay null đều được nha các bạn. Để kiểm tra một biến là đang có giá trị là NULL hay không thì viết như sau:

7.  Object

Kiểu đối tượng sẽ có một bài riêng nói về kiểu này khi chúng ta tìm hiểu lập trình hướng đối tượng OOP.

8. Resource

Đến bài lập trình với CSDL MySQL thì chúng ta sẽ hiểu rõ hơn biến kiểu resource này.

Mệt quá Tired , thôi tạm kết thúc bài này ở đây. Hẹn gặp các bạn ở các bài kế tiếp nhé. Ở bài sau, chúng ta tìm hiểu về biến và phạm vi của biến  Bye

Sharing is caring!

Bài 00 - Cài đặt môi trường làm việc PHP với EasyPHP & trình soạn thảo Brackets Editor
Bài 02 - Khai báo biến và phạm vi sử dụng biến trong PHP 5

Vincent Le

Tui là Lê Minh Đạt, tên tiếng anh là Vincent(do thích nhân vật Vincent Valentine, ai từng là fan của trò Final Fantasy VII thì sẽ biết nhân vật này, hehe). Đang tập tành làm một blogger viết về mảng lập trình, mong muốn được chia sẻ những gì đã học được, tích góp được trong 10 năm đi làm thợ code.

shares